Quan điểm, mục tiêu và giải pháp triển khai Chuyển đổi số tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030

28/06/2022 08:36 Số lượt xem: 349

Chiều 27/6, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị Tổng kết thực hiện Nghị quyết số 54-NQ/TW, ngày 14/9/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Kết luận số 13-KL/TW, ngày 20/10/2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 54-NQ/TW. Đồng chí Nguyễn Thị Lệ Tuyết, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông có bài tham luận gửi hội nghị. Cổng TTĐT trân trọng giới thiệu toàn văn bài tham luận:

Những năm gần đây, việc thực hiện chuyển đổi số đã đem lại một số kết quả đáng kể cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước nói chung và từng ngành, lĩnh vực nói riêng trong đó có tỉnh Bắc Ninh. Đại hội XIII của Đảng đã đề cập nội dung chuyển đổi số là một tất yếu khách quan và có lộ trình, bước đi thích hợp với việc chuyển đổi số. Đại hội XIII của Đảng đã xác định nhiều nhóm giải pháp ở các ngành, lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực Chuyển đổi số được xác định: “Phát triển nhanh và bền vững, dựa chủ yếu vào khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phải đổi mới tư duy và hành động, chủ động nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 gắn với quá trình hội nhập quốc tế để cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội số và coi đây là nhân tố quyết định nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh”. Đại hội cũng khẳng định, cùng với sự phát triển mạnh mẽ khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là một trong ba trụ cột thực hiện phát triển nhanh, phát triển bền vững; đồng thời là một trong những khâu đột phá lớn, góp phần “tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.

          Cùng với quá trình chuyển đổi số chung ở cấp quốc gia, tỉnh Bắc Ninh cũng xác định đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số trên phạm vi địa bàn toàn tỉnh và trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XX đã xác định “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động quản lý, điều hành. Tiếp tục xây dựng chính quyền điện tử, thành phố thông minh bảo đảm thiết thực hiệu quả”. Ngày 18/3/2022, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TU về Chương trình chuyển đổi số tỉnh Bắc Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; đây là Nghị quyết chuyên đề riêng của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về chuyển đổi số thể hiện quyết tâm của cả hệ thống chính trị của tỉnh trong việc triển khai chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh, trong đó lấy người dân làm trung tâm, coi dữ liệu là tài nguyên mới và nền tảng là giải pháp đột phá để triển khai chuyển đổi số đạt hiệu quả cao trên địa bàn tỉnh.

 Bước đầu quá trình triển khai chuyển đổi số đạt được một số kết quả như: Hạ tầng viễn thông, CNTT được đầu tư công nghệ đồng bộ, hiện đại; 100% các thôn, khu phố được cáp quang hóa, mạng 4G được phủ sóng rộng khắp toàn tỉnh; thông tin liên lạc được đảm bảo; Trung tâm dữ liệu tỉnh được đầu tư xây dựng, đưa vào sử dụng và vận hành ổn định; các hệ thống dùng chung của tỉnh được triển khai đồng bộ trên địa bàn tỉnh (Hệ thống Cổng thông tin điện tử tỉnh cung cấp thông tin cho người dân, doanh nghiệp với 192 cổng thành phần, Hệ thống thông tin một cửa điện tử tích hợp dịch vụ công trực tuyến cung cấp 1.319/1.702 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; Hệ thống quản lý văn bản và điều hành phục vụ 200 cơ quan, đơn vị đồng thời liên thông gửi nhận văn bản giữa các cơ quan Đảng và Nhà nước ở 3 cấp trên địa bàn tỉnh với tỷ lệ xử lý hồ sơ công việc đạt 93%); các đơn vị, địa phương triển lắp đặt với gần 4.000 camera giám sát/an ninh và 53 điểm Wifi miễn phí, kết nối truyền số liệu chuyên dụng 191 cơ quan nhà nước; triển khai hệ thống hội nghị truyền hình ở 3 cấp,…

Việc ứng dụng công nghệ thông tin từng bước tạo đột phá trong cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp và nâng cao chỉ số xếp hạng năng lực quản trị, điều hành cấp tỉnh như: Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) đứng thứ 4/63; chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ hành chính (SIPAS) đứng thứ 7/63; chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) đứng thứ 32/63; chỉ số chuyển đổi số (DTI) đứng thứ 3/63; chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) xếp hạng 7/63 tỉnh, thành phố.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số còn bộc lộ một số hạn chế, tồn tại:

Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 của nhiều cơ quan còn thấp, ít phát sinh hồ sơ; một số cơ quan đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin nhưng hiệu quả sử dụng chưa cao; người đứng đầu một số ngành, đơn vị, địa phương chưa gương mẫu, đi đầu trong ứng dụng công nghệ thông tin; cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông chưa phát huy hết hiệu quả; mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo điều hành, quản lý, sản xuất, kinh doanh chưa đồng đều; việc ứng dụng những tiến bộ mới, công nghệ mới trong công nghệ thông tin còn hạn chế; hệ thống cơ chế, chính sách chưa hoàn thiện, còn nhiều khó khăn trong đầu tư ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin. Công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng còn bị động. Nguồn nhân lực CNTT trong các cơ quan, đơn vị còn thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng; còn có những lúng túng nhất định trong việc xác định cách thức, bước đi trong thực hiện chuyển đổi số.

Những tồn tại, hạn chế nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan. Công tác tuyên truyền có mặt chưa được quan tâm; vai trò, trách nhiệm của một số cấp ủy đảng, chính quyền chưa cao, còn thiếu chủ động tư duy, giải pháp đột phá triển khai chuyển đổi số; nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, người dân và trong đời sống xã hội còn chưa đầy đủ, chưa phát huy vai trò, trách nhiệm, tinh thần đổi mới, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ. Năng lực một số cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới.

          * Với những thuận lợi và khó khăn, quan điểm triển khai chuyển đổi số của tỉnh Bắc Ninh như sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số; xác định chuyển đổi số là cơ hội, tạo bứt phá, vươn lên, là một nhiệm vụ trọng tâm, đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững đến năm 2030, là trọng tâm của đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX. Thay đổi tư duy trong triển khai chuyển đổi số, hình thành tư duy số, là tư duy mới, không truyền thống, không tuần tự; lấy con người làm trung tâm trong chuyển đổi số; tạo sự thay đổi toàn diện, mang tính tất yếu, đạt kết quả cao.

Thứ hai, chuyển đổi số gắn với sự thay đổi lớn, là trách nhiệm, quyết tâm của Đảng bộ và cả hệ thống chính trị tỉnh. Người đứng đầu cơ quan Đảng, tổ chức chính trị - xã hội và Chính quyền các cấp chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện các chỉ tiêu chuyển đổi số theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao. Các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị xây dựng kế hoạch cụ thể, xác định những nội dung, lộ trình thực hiện chuyển đổi số.

Thứ ba, hoàn thiện chính quyền điện tử, hướng đến chính quyền số, phát triển dịch vụ đô thị thông minh, kinh tế số và xã hội số là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, cần triển khai đồng bộ, toàn diện tại khu vực nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Quá trình chuyển đổi số ưu tiên một số ngành, lĩnh vực và thí điểm, thử nghiệm công nghệ mới với quy mô thích hợp; chấp nhận cách làm mới, thay đổi quy trình nghiệp vụ để tạo ra hiệu quả cao hơn. Các hoạt động cải cách hành chính phải gắn với thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số hiệu quả. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong theo dõi, giám sát, đo lường các kết quả, chỉ số đánh giá, lấy dữ liệu là cơ sở cho việc ra quyết định; tăng cường bảo đảm an toàn dữ liệu, an ninh mạng, bảo đảm nguồn nhân lực trong thực hiện chuyển đổi số.

          * Mục tiêu chuyển đổi số: Thực hiện chuyển đổi số đồng bộ, toàn diện trên phạm vi toàn tỉnh, đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững; phấn đấu đến năm 2030, Bắc Ninh trở thành một trong những tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương trong nhóm dẫn đầu cả nước về chuyển đổi số; hình thành và phát triển môi trường số an toàn, tiện ích góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành tại các cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan nhà nước, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và sinh hoạt cộng đồng của người dân; đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp và người dân trong lao động, sản xuất, kinh doanh.

          * Một số giải pháp triển khai chuyển đổi số:

- Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, Chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị-xã hội nhằm đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức, tạo nền tảng chuyển đổi số, với các nội dung:

Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương về chuyển đổi số, trọng tâm là Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và ban hành Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030; Quyết định số 27/QĐ-UBQGCĐS, ngày 15/3/2022 của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số ban hành Kế hoạch hoạt động của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số năm 2022.

Phát huy mạnh mẽ vai trò của MTTQ, tổ chức chính trị - xã hội các cấp trong công tác tuyên truyền; thực hiện chức năng giám sát, vận động nhân dân tích cực hưởng ứng chương trình chuyển đổi số tại địa phương. Khuyến khích lực lượng thanh niên xung kích, đi đầu trong thực hiện chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi số.

Xây dựng cơ chế, chính sách của tỉnh để hỗ trợ, thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp chuyển đổi số toàn diện, hiệu quả, phù hợp với môi trường số; tạo môi trường, điều kiện thuận lợi thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; tích cực thu hút các doanh nghiệp số đầu tư vào tỉnh. Cụ thể hóa và triển khai khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát cho hoạt động phát triển, thử nghiệm và áp dụng các sản phẩm, giải pháp, dịch vụ, mô hình kinh doanh số trên địa bàn tỉnh, quy định rõ phạm vi không gian và thời gian thử nghiệm, để khuyến khích đổi mới, sáng tạo.

Tập trung đào tạo, bồi dưỡng, thu hút nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao sẵn sàng tham gia vào quá trình chuyển đổi số.

Phát triển hạ tầng kết nối mạng Internet vạn vật; xây dựng lộ trình và triển khai tích hợp cảm biến và ứng dụng công nghệ số vào các hạ tầng thiết yếu như: Giao thông, năng lượng, điện, nước, đô thị để chuyển đổi thành một bộ phận cấu thành quan trọng của hạ tầng số; các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng thiết yếu, hạ tầng giao thông, đô thị, xây dựng phải có nội dung nghiên cứu, phân tích để xem xét, ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong quản lý vận hành, hình thành dữ liệu quản lý của các ngành, kho dữ liệu của tỉnh.

Triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định số 06/QĐ-TTg, ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ về “Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030”.

Ưu tiên triển khai các phần mềm dùng chung để bảo đảm thống nhất, đồng bộ; ưu tiên các cơ quan tổ chức triển khai các hệ thống thông tin tổng thể để thực hiện chuyển đổi số toàn ngành; tránh phát triển các ứng dụng manh mún, thiếu kết nối gây cát cứ dữ liệu, khó tích hợp, chia sẻ.

Triển khai hệ thống giám sát, cảnh báo sớm nguy cơ, điều phối ứng cứu sự cố mất an toàn, an ninh mạng cho các cơ quan, tổ chức trên địa bàn tỉnh.

- Thứ hai, phát triển Chính quyền số

Xây dựng hạ tầng chính quyền số phục vụ cơ quan nhà nước trên cơ sở kết hợp thế mạnh của mạng truyền số liệu chuyên dùng, Internet, trung tâm dữ liệu của cơ quan nhà nước để phục vụ kết nối liên thông, xuyên suốt từ cấp tỉnh đến cấp xã.

Đẩy nhanh tiến độ triển khai các hệ thống thông tin tổng thể của các ngành, các cơ sở dữ liệu quốc gia trên địa bàn tỉnh, cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển; từng bước hình thành các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu dùng chung, cơ sở dữ liệu mở cấp tỉnh.

Phát triển nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu dùng chung của tỉnh kết nối liên thông với nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia nhằm kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu để khai thác, sử dụng có hiệu quả.

- Thứ ba, phát triển kinh tế số

Thúc đẩy phát triển kinh tế số với trọng tâm là phát triển doanh nghiệp công nghệ số, chuyển dịch từ lắp ráp, gia công về công nghệ thông tin sang làm sản phẩm công nghệ số, công nghiệp 4.0, phát triển nội dung số, công nghiệp sáng tạo, kinh tế nền tảng, kinh tế chia sẻ, thương mại điện tử và sản xuất thông minh.

Tiếp tục thu hút phát triển công nghiệp, hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm công nghệ cao của cả nước.

- Thứ tư, phát triển xã hội số

Cung cấp các khóa học đại trà trực tuyến cho người dân nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục nhờ công nghệ số, đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng số; đẩy mạnh việc học và thi trực tuyến; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập; phát triển các doanh nghiệp công nghệ phục vụ giáo dục hướng tới đào tạo cá thể hóa.

- Thứ năm, đảm bảo nguồn lực cho chuyển đổi số

Huy động các nguồn lực thực hiện chuyển đổi số, lồng ghép nguồn lực từ các chương trình, đề án có liên quan, nguồn đầu tư của doanh nghiệp, cộng đồng và các nguồn kinh phí hợp pháp khác. Huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân thông qua các chính sách khuyến khích, thu hút doanh nghiệp công nghệ số đầu tư phát triển chuyển đổi số.

Trong quá trình chuyển đổi số, chính quyền đóng vai trò kết nối, để tất cả các lực lượng cùng tham gia chuyển đổi số, góp phần xây dựng chính quyền số hiệu quả, phục vụ người dân tốt, phát triển nền kinh tế số mang lại giá trị thặng dư cao hơn.

Nhằm phát huy tối đa, hiệu quả tiềm năng, lợi thế, dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo để phát triển nhanh và bền vững, tỉnh Bắc Ninh tập trung sớm tiếp cận và chủ động nắm bắt, triển khai trong thực tiễn những thành tựu công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với nhiều chủ trương, quyết sách mạnh mẽ, thể hiện ý chí chính trị, khát vọng của cả hệ thống chính trị của tỉnh, bắt đầu bằng tư duy số, xây dựng chính quyền điện tử, hướng đến chính quyền số, phát triển thành phố thông minh, kinh tế số, xã hội số trên địa bàn tỉnh./.

PV